CTDA.vn

CTDA.vn Connecting everybody since 2012 Thân Thiện Với Thiên Nhiên & Con Người

📒KIẾN THỨC về VIỆT NAM📗Connnaissance du Viet-Nam- Ngôn ngữ: Tiếng Pháp- Số Trang: 355- Tác giả: MAURICE DURAND , PIERRE ...
20/07/2025

📒KIẾN THỨC về VIỆT NAM
📗Connnaissance du Viet-Nam

- Ngôn ngữ: Tiếng Pháp
- Số Trang: 355
- Tác giả: MAURICE DURAND , PIERRE HUARD
- Xuất bản ÉCOLE FRANCAIS D'extrême-ORIENT
- In Tại HANOI - Năm 1954

—————————————————————————

LỜI GIỚI THIỆU

Cuộc sống của một loài động vật, đơn giản chỉ là sự thích nghi trực tiếp và dứt khoát với môi trường mà nó vẫn giữ nguyên như khi mới đến. Ở con người, "sinh vật độc nhất này", quả thực có sự thích nghi với môi trường, nhưng cũng có sự nổi loạn, tức là sự phát minh ra các phương tiện vật chất và quan niệm về những mục đích tinh thần để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các nhóm người và ngăn chặn sự diệt vong của họ khỏi bản chất thù địch. Văn minh và văn hóa ra đời từ đó.

Văn minh là tổng thể các phương tiện, phát minh và khám phá mà một dân tộc sử dụng để tổ chức đời sống bên ngoài. Văn hóa, vốn là một cách sống và tô điểm cho sự nhàn rỗi, gắn liền với tổng thể các sáng tạo độc lập với các yếu tố sinh học thuần túy, mà qua đó một nhóm dân tộc tìm cách thể hiện những khuynh hướng sâu kín nhất, nhu cầu tinh thần và quan niệm vũ trụ của mình.

Mỗi nền văn minh đều có công thức nhân khẩu học riêng, cách sống và cách chết riêng, lối sống riêng và trình độ văn hóa riêng. Phẩm giá và trí tuệ con người không được đo lường bằng mức sống cao, và một trình độ văn minh rất cao có thể đi đôi với một trình độ văn hóa tầm thường. Trong trường hợp này, tri thức bị hạ thấp và suy thoái nhằm mục đích phổ biến đến quần chúng. Một trình độ văn hóa cao hơn không cho phép phổ biến. Nó nâng con người lên cao hơn chính mình để càng nhiều người càng tốt có thể tiếp cận được niềm vui tinh thần. Nền tảng của nó có thể là sự thiếu thốn vật chất với những khuynh hướng khổ hạnh. Đây là trường hợp ở Việt Nam, và đặc biệt là ở vùng nông thôn miền Bắc, nơi nghèo đói và đông dân. Như P. Gourou đã chỉ ra, mặc dù nghèo đói, nhưng họ không sống trong sự xấu xí, mặc dù điên cuồng tìm kiếm lợi nhuận khiêm tốn nhất và chấp nhận một công việc được trả công thấp kém, họ đã hình thành một nền văn minh cân bằng và hợp lý mà các quốc gia phát triển hơn nhiều còn thiếu, và một nền văn hóa lấy cảm hứng từ Trung Hoa, sánh ngang với tất cả các nền văn hóa cổ điển vĩ đại.

Văn hóa và văn minh Việt Nam do đó cấu thành nên vũ trụ này vừa là tạo vật. Họ đã trở thành, đối với cả người bản xứ lẫn người nước ngoài, những tạo vật. Bám chặt vào những quy ước đó, họ đã tự đặt mình vào dòng chảy lịch sử "thế giới chung cho tất cả" mà Aristotle đã nói đến, cái khuôn khổ áp đặt lên cá nhân và "thế giới chung này cùng những nguồn gốc của xung đột" không thể hòa nhập. Nếu sự hòa nhập này không trọn vẹn, sẽ có sự mất cân bằng giữa các hoạt động khác nhau được thực hiện ở Việt Nam, nơi mà mọi người đều phải tham gia.

Phổ biến những sự kiện cốt lõi của nền văn minh và văn hóa Việt Nam, việc nghiên cứu những sự kiện này đã trở thành bắt buộc ở mọi cơ sở để hiểu một phần của "Thế giới" này. Nhiều nỗ lực đã được thực hiện theo hướng này và chúng tôi nợ một trong những nỗ lực tốt nhất là Nguyên-văn-Huyền T.

Chúng tôi không có ý định lặp lại công trình của ông. Trong khi chờ đợi các học giả Việt Nam biên soạn một bộ Bách khoa toàn thư tiếng Việt, một việc ngày càng trở nên cần thiết, mục tiêu của chúng tôi chỉ đơn giản là cung cấp một công cụ hữu ích cho tất cả những ai tò mò về cuộc sống truyền thống của người Việt Nam.

Chúng tôi rất coi trọng nghệ thuật biểu tượng. Những tác phẩm vĩ đại của Henri-J. Oger (1908) và J.-G. Besson (1938) không giúp ích gì nhiều cho chúng tôi. Chúng tôi đã lấy một số lượng lớn minh họa từ tác phẩm sau khi mất của cố họa sĩ Georges Dumoutier (1850-1904), hoặc từ tác phẩm chrestomathie (1914) của Ed. Nordemann, hoặc từ một khóa học tiếng Việt của Tissot. Những đường nét của chúng, được vẽ một cách trang nhã, mang một nét đặc trưng Việt Nam.

Công việc của chúng tôi đã tự nguyện dừng lại vào đầu thế kỷ 20, vào thời điểm mà, giống như tất cả các nền văn hóa Viễn Đông, nền văn minh Việt Nam đã bị văn minh phương Tây nhấn chìm. Vào thời điểm đó, nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế nông thôn, đã trải qua giai đoạn đồ đá mới trong một nghìn đến hai nghìn năm để duy trì trong một chu trình khép kín ở giai đoạn tiền công nghiệp. Việc dần dần thay thế xe tải bằng xe chở hàng và hàng hóa nước ngoài bằng sản phẩm địa phương, do người sản xuất tiêu thụ, đã tấn công nghiêm trọng, ở châu Âu, vào sự ổn định của các cộng đồng nông thôn, vốn gần như tự tồn tại hoàn toàn với lối sống và kỹ thuật như ở Việt Nam, cũng như ở đến từ sâu thẳm thời tiền sử (Varagnac)….

————————————————————————-
Tôi gặp cuốn sách này lần đầu tiên năm tôi 20 tuổi và người giới thiệu nó với tôi không ai khác hơn là Cụ thân sinh ra tôi. Một hôm Cha tôi lấy từ trong tủ sách, mà cụ để riêng những cuốn sách Cụ quý và đánh giá cao, cuốn Connaissance du Vietnam này và bảo tôi: “Con hãy chịu khó đọc ngay cuốn này, con đã 20 tuổi và đã biết khá Pháp văn, hãy đọc cuốn này để có một hiểu biết căn bản về quê hương, đất nước và đồng bào của con. Tuy các tác giả là hai người Pháp nhưng những gì họ biết về dân ta rất ư là phong phú, rất đáng để chúng ta sử dụng và tham khảo.”

Vừa mở cuốn sách tôi đã có cảm tình ngay vì tôi bị trên một trăm hình vẽ rất đẹp vẽ đủ mọi lãnh vực, ngành nghề của người Việt mình, chinh phục cái một. Tôi liền bỏ ra 3 tuần lễ để nghiên cứu cuốn sách, và càng đọc tôi càng thấy thích thú. Tôi tự nhủ, đây là một cuốn sách tốt quá, sau khi mình đọc xong, sẽ tìm cách phổ biến cho bạn bè cùng đọc, và rồi tự nhiên tôi cảm thấy như mình bị một sợi dây vô hình nào đó ràng buộc mình với cuốn sách này. Tôi cảm ơn Cụ tôi và trách Cụ: “Cuốn sách hay thế này mà bây giờ Cha mới bảo con đọc, lẽ ra con phải được đọc nó sớm hơn.” Cha tôi cười và bảo: “Phải để cho con lo học cho cừ chữ Pháp rồi đọc thì mới thấy thích”. Từ ngày đó tôi luôn luôn nghĩ rằng mình có một chút “duyên” gì với cuốn sách này đây, để rồi, 37 năm sau, vào năm 1992, tôi được một vị “đầu nậu” sách có danh tiếng và cũng là người có tâm huyết với văn hóa dân tộc nhờ tôi dịch cuốn sách ra Anh ngữ và tôi đã làm điều đó với sự thích thú.

Bây giờ tôi xin giới thiệu nó với các bạn. Trước hết tôi xin được có mấy lời nói về 2 đồng tác giả Pierre HUARD và Maurice DURAND, sau đó tôi sẽ xin nói về tác phẩm tuyệt vời này. Cuốn sách được viết và xuất bản năm 1954 và tôi chỉ được biết là hai Cụ tác giả, một Cụ là một Thiếu tướng Quân Y (Cụ Huard) và Cụ Durand thì là một Giáo sư thì phải, tôi không nhớ rõ, tuy nhiên điều tôi biết rất rõ là cả hai Cụ đều là thành viên của trường Viễn Đông Bác Cổ đã được thành lập bởi một nghị định của toàn quyền Paul Doumer ngày 15 tháng 12 năm 1898, thoạt đầu mang tên là Phái Bộ Nghiên Cứu Khảo Cổ Học và một năm sau mới mang tên Viễn Đông Bác Cổ. Đây không phải là một Trường mà chính là một Viện Chuyên Nghiên Cứu về Lịch Sử, Khảo Cổ Học và Triết Học tại Bán Đảo Đông Dương và các Quốc Gia ở Viễn Đông như Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ. Nội việc hai Cụ là thành viên của tổ chức này cũng đủ để người đọc có quyền tin tưởng vào những gì các Cụ viết ra.
Giờ tôi xin giới thiệu cuốn sách. Sách này dày 385 trang có chứa đựng 132 minh họa tuyệt vời liên quan tới mọi lãnh vực hoạt động của người Việt Nam, và được chia ra làm 21 Chương, ví dụ như Chương 1 nói về địa lý Việt Nam, Chương 2 nói về Lược sử Việt Nam, Chương 3 nói về Cơ thể của người Việt Nam nghiên cứu về Dòng giống, Bộ xương, Gân cốt, Da, Răng v.v. Mười tám chương còn lại nói về đủ mọi lãnh vực khác như Luật Pháp, Lễ Hội, Đời Sống Xã Hội, Chiến Tranh, Nông Dân, Nghệ Nhân, Đồ Ăn Thức Uống, Ăn Mặc, Chuyên Chở, Thú Vui Giải Trí, Đặc Tính Văn Hóa, Âm Nhạc và Văn Chương, kể cả Bói Toán.
Ngay hồi đó người viết đọc lướt qua nhiều chương và chỉ đặc biệt yêu thích Chương cuối cùng là Chương 21 nói về Văn Chương Việt Nam. Trong Chương này thoạt tiên hai Cụ nhắc tới các tác phẩm viết bằng chữ Hán dưới các đời Lý Trần như Đại Việt Sử Ký (1272), An nam Chí Lược của Lê Tắc (1334), Việt-điện u linh tập của Lý Tế Xuyên (1323) vv… Về văn chương chữ Nôm các Cụ nhắc tới Hồng Đức Quốc âm thi tập, tới Bạch Vân thi tập của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, và tới thế kỷ thứ XVIII, thì các Cụ nhắc tới Hồ Xuân Hương. Bước sang văn chương bằng chữ quốc ngữ thì các Cụ nhắc tới Trương-Vĩnh-Ký, Huỳnh-Tịnh-Của, Nguyễn-Văn-Vĩnh, Phan-Kế-Bính và Phạm-Quỳnh, các Cụ cũng đặc biệt chú ý tới Tản-Đà Nguyễn-Khắc-Hiếu. Trong chương này các Cụ còn nói tới cả cách thức làm thơ, phú, và trong lúc đọc khá kỹ càng Chương này người viết rất thích một bài mà hai Cụ gọi là thể thơ “Trường thiên”, và người viết xin nêu ra dưới đây vì thực sự là bài viết này trong 53 năm nay đã gần như là một thứ kim chỉ nam cho người viết sống theo:

Bài ghi trên chỗ ngồi
Người xấu chớ nên nói,�Mình hay chớ nên khen,�Làm ân chớ nên nhớ,�Chịu ân chớ nên quên,�Đời khen không đủ mến,�Duy lấy nhân làm nền,�Chứa bụng rồi mới động,�Gièm pha có ngại gì,�Đừng để danh quá thực,�Thánh ở trong ngu si,�Giữ mình cốt trong trẻo,�Ánh sáng lộ tỳ ty.�Mềm mỏng được bền dai,�Lão đam (1) khỏe mới kỳ,�Hầm hầm nét kẻ hèn,�Ôn hòa người lượng cả,�Nói cần, ăn có chừng,�Biết vừa, không tai vạ,�Cứ thế được mãi mãi,�Thơm tho cũng thỏa dạ.
(1) Lão Đam là nói Lão Tử
Ngoài bài nói trên người viết còn khoái chí tử một bài khác ở thể thơ gọi là “yết hậu”:
Sư gạ vãi (2)�Chơi Xuân kẻo nữa già,�Xưa nay vẫn muốn mà,�Mời vãi vào nhà hậu,�Ta…�Vãi cự lại:�Đã mang tiếng xuất gia�Còn đeo thói nguyệt hoa,�Sư mô đâu có thế,�Ma!�(2) Đúng ra là gạn, nhưng người viết tính tình nghịch ngợm đã lấy đi chữ n để thành gạ
Gần nửa thế kỷ đã trôi qua mà người viết không hề có lúc nào quên mấy câu thơ kỳ diệu này, để rồi gần đây vì thấy đất nước ta đang lạm phát “học giả” nên người viết nương theo bài thơ trên mà cũng làm một bài yết hậu tặng quý vị “học giả” hiện đại (xin lưu ý là các học giả thật, các học giả chân chính thì không bị bài này “phủ sóng”):
Biển học vô bến bờ,�Học thật mắt muốn mờ.�Huống chi là “học giả”�Mơ!
Vào năm 1992, người viết được một vị đầu nậu thuê dịch cuốn sách này ra Anh ngữ và người viết đã làm. Cuốn bằng Pháp văn dày 358 trang, nhưng khi sang tiếng Anh (vì in thưa hơn) nên cuốn sách dày đến 452 trang và người viết đã ký bút hiệu là Vũ Thiên Kim, là tên con gái của mình đã xuất ngoại sinh sống ở Cali bên Hoa Kỳ. Bản dịch này đã được tái bản tới lần thứ ba và người viết đã cẩn thận dịch không bỏ một dấu phẩy của nguyên tác. Do đó ngày nay bản dịch này đang được một số người làm công việc nghiên cứu đôi khi dùng để tham khảo vì hai Cụ tác giả đã làm một chuyện tuyệt vời là, ở cuối mỗi Chương trong tất cả 21 Chương các Cụ đều có để phần Danh sách sách báo tham khảo, như vậy sau mỗi Chương có không dưới 50 tên sách báo liên quan tới vấn đề được bàn, và người dịch đã dịch đủ hết tất cả các tên sách báo đó sang Anh ngữ là thứ tiếng lúc này rất thịnh hành, do đó cũng phần nào có một đóng góp gián tiếp để sau này kể công với Mẹ Âu Cơ…

Vũ Anh Tuấn

Bộ Ấm Trà Tích xưa Nai Thọ Tiên = “Tứ-Hỷ-Tề-Lai” (四喜齊來)————————————————————————Ý NGHĨA TRANH VẼ TRÊN CÁI BÌNH TÍCH TRÀ N...
18/07/2025

Bộ Ấm Trà Tích xưa Nai Thọ Tiên = “Tứ-Hỷ-Tề-Lai” (四喜齊來)
————————————————————————

Ý NGHĨA TRANH VẼ TRÊN CÁI BÌNH TÍCH TRÀ NGÀY XƯA

Ngày xưa, chắc nhà ai cũng có cái ấm trà Ông Thọ
Đi kèm theo còn có bộ tách dĩa, thường đặt trên cái bàn dài trước bàn thờ Gia Tiên để rót nước trà mời khách

Theo tìm hiểu, một Chú lớn tuổi giải thích đó là bốn chữ:

“Tứ-Hỷ-Tề-Lai” (四喜齊來)

Bốn chữ mang ý nghĩa như sau:

1- Ông Thọ (壽):

Sống được lâu dài cùng con cháu...!

Đây là niềm vui thứ nhất.

2- Con Nai, chữ Nho là Lộc (鹿), đồng âm với lộc (祿): bổng lộc..!

Đây là niềm vui thứ hai.

3- Phía trên đầu con Nai có con Dơi. Chữ Nho gọi Dơi là Bức (蝠): Biên Bức (蝙蝠); chữ Bức (蝠), đồng âm với chữ Phúc (福)

Đây là niềm vui thứ ba: được hưởng Phúc, có Phước...!

4- Đứa Trẻ đang chơi với con Chim giống như con Vịt. Loài này sống trên nước; con Trống gọi Uyên (鴛), con Mái gọi là Ương (鴦).

Loài này sống có đôi, rất chung thủy, cho nên mong vợ chồng gắn bó lâu dài gọi là Uyên-Ương. Được như thế thì sanh con nối dõi tông đường, gia đình hạnh phúc. Đây là niềm vui thứ tư.

*Hình ảnh cô gái có lẽ biểu tượng cho sự tươi trẻ thanh xuân trong gia đình...! Một bình tích trà dùng để giải khát, để cùng mượn tách trà đàm đạo,... được mang theo ý nghĩa tốt đẹp của người xưa làm ra, họ mong muốn đến cho mọi gia đình...!

Sưu tầm

Sắp tới tôi có vài việc riêng quan trọng nên buộc phải giải phóng dần đi những món đồ mà tôi đã cất công sưu tầm bấy lâu...
06/07/2025

Sắp tới tôi có vài việc riêng quan trọng nên buộc phải giải phóng dần đi những món đồ mà tôi đã cất công sưu tầm bấy lâu nay. Hy vọng những món đồ này sẽ tới được tay những người hữu duyên sẽ làm cho công sức và tâm huyết tôi được thêm ý nghĩa.

1. Món đồ đầu tiên tôi xin giao lưu nguyên set 4 bộ ấm trà mini dễ thương tích xưa Hồng Lâu Mộng rất hiếm để đầy đủ màu như này, tình trạng như hình (ít đẹp hơn hình chút vì hình có ảnh hưởng của người chụp).

Ps: không tách lẻ.

📚Nghệ thuật Đông Dương / Ấn - Trung 1894 - tác giả: A.de Pouvourville📚Nguyên bản gốc in 1894 = 131 năm tuổi 📚Tình trạng ...
06/07/2025

📚Nghệ thuật Đông Dương / Ấn - Trung 1894 - tác giả: A.de Pouvourville
📚Nguyên bản gốc in 1894 = 131 năm tuổi
📚Tình trạng gần như mới chưa sử dụng
📚 Sách dày 292 trang
📚 Cuốn sách đề cập nhiều về ảnh hưởng Ấn-Trung đến kiến trúc An Nam nói riêng và liên bang Đông Dương nói chung.

LỜI NÓI ĐẦU

Chỉ có cái tên “chủng tộc Đông Dương” là được đặt bên cạnh Ấn Độ và Trung Hoa: nền văn minh, con người, phong tục, triết học của họ thật sự là một nền văn minh riêng biệt, một dân tộc riêng biệt, với những phong tục và triết lý không thể tìm thấy ở nơi nào khác, có cốt lõi và nguyên lý hình thành độc lập.

Nghệ thuật Đông Dương cũng như vậy. Người ta thường cho rằng những tác phẩm nghệ thuật Đông Dương chỉ là một dạng tổng hợp, được cấu thành – ít nhiều hài hòa – từ các nguồn cảm hứng Trung Hoa và Ấn Độ. Quả thật, nhất là trong việc áp dụng nghệ thuật vào tôn giáo, các trào lưu lớn như Phật giáo và Đạo giáo đã để lại dấu ấn của mình trong vùng bán đảo này qua nhiều thế kỷ, nơi từng là điểm trung chuyển bắt buộc trong hành trình di chuyển của họ. Nhưng ảnh hưởng không thể tạo ra cả một phong trào nghệ thuật ở nơi mà trước đó hoàn toàn không có gì; và nếu không từng có một nghệ thuật nguyên thủy của Đông Dương thì nghệ thuật Ấn Độ và Trung Hoa đã không thể gây ảnh hưởng dù là tạm thời.

Vì vậy, nếu người ta cho rằng hai nền nghệ thuật này đã bao trùm toàn bộ biểu hiện nghệ thuật của Viễn Đông, và nếu việc nghiên cứu chỉ tập trung vào hai dân tộc ấy (bởi vì họ đông dân hơn và sản phẩm nghệ thuật phong phú hơn), thì điều đó sẽ làm ta đánh mất một cách vô thức một số khái niệm quý giá, những ý tưởng sâu sắc và giá trị lớn, cũng như một trong những biểu hiện tinh tế và cá biệt nhất của phương Đông xa xôi.

Bởi dân tộc An Nam đã đem đến cho toàn bộ nghệ thuật của mình một phong vị dịu dàng, tinh tế, đôi khi kín đáo mà thanh nhã. Những dấu hiệu ấy, tuy dễ chịu mà thoáng qua, thật khó nắm bắt đối với người quan sát phương Tây, bởi họ vốn xa lạ một cách di truyền với kiểu tinh thần này.

Tuy nhiên, trong một cuốn sách phổ thông nằm trong khuôn khổ giáo dục đại chúng, được xây dựng trên một hệ thống tổng quát, thì không thể nào đi sâu vào nguồn gốc, phân tích các nét độc đáo, hay truy nguyên tính cách phức tạp của nghệ thuật Đông Dương. Tác giả buộc phải ở lại trong phạm vi những khái quát, những gì dễ hiểu và hữu ích cho số đông. Chính vì thế, thật đáng tiếc, chúng tôi không thể viết nên một lịch sử hoàn chỉnh của hội họa Đông Dương, cũng không thể mô tả nét đặc sắc rất riêng của gốm sứ nơi đây, mà chỉ có thể điểm qua vài nét chính. Chúng tôi đành để lại những miêu tả sống động và mới mẻ ấy cho các chuyên gia trong từng lĩnh vực, và tập trung hơn vào các biểu hiện kiến trúc và điêu khắc, nơi thể hiện rõ nhất quan niệm thẩm mỹ của một dân tộc. Cuốn sách được xây dựng theo hướng này có thể mất đi phần nào sự hấp dẫn tinh tế, nhưng bù lại sẽ mang giá trị thực hành cao hơn. Chúng tôi để lại việc viết lịch sử các hiện vật hiếm cho những người chuyên môn, cũng như việc miêu tả các phương pháp cho những nhà nghiên cứu, để từ đó xác lập cách thức thích nghi độc đáo của tài năng một dân tộc, và hình thành nên một cái nhìn riêng biệt về nghệ thuật – thứ mà dân tộc Đông Dương có quyền sở hữu như một đặc sản văn hóa độc quyền.

Tác giả đã khai thác những tư liệu quý giá để mô tả kiến trúc Khmer, đặc biệt trong công trình tuyệt vời của ông Delaporte, cùng với các ghi chú chi tiết đi kèm công trình đó, vốn nhờ vào sự quan sát sắc bén của ông Harmand. Những bản khắc minh họa cho phần tóm lược nghệ thuật Khmer đã được ông Delaporte và nhà in Charles Delagrave hào phóng cung cấp. Về các công trình Khmer vùng cao (kham), ông Charles Lemire – cựu công sứ Pháp tại An Nam – đã hết lòng chia sẻ kinh nghiệm lâu năm và cho phép chúng tôi tiếp cận kho tư liệu quý báu mà ông nắm giữ từ trước đến nay.

Chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các viên chức người Âu và người bản địa thuộc xứ Bảo hộ, những người đã cung cấp các hiện vật lịch sử có giá trị cao, và từ những người đã tạo điều kiện cho chúng tôi tiếp cận các bộ sưu tập – dù là của hoàng gia hay tư nhân. Một số hiện vật quý từ Bảo tàng Guimet cũng đã được đóng góp. Chúng tôi đặc biệt biết ơn Ngài Nguyễn Hữu Độ – cựu Tổng đốc Bắc Kỳ; ông Cao Xuân Dục – Tổng đốc vùng Ba Thành, người đã cung cấp cho chúng tôi một bên là mô tả các bảo vật hoàng gia, một bên là lịch sử và truyền thuyết nghệ thuật của tỉnh Sơn Tây. Cuối cùng, trong việc chụp ảnh tại chỗ các yếu tố dùng cho minh họa, chúng tôi đặc biệt cảm kích ông H. Bernard de Jandin, người đã chịu trách nhiệm in thử các hiện vật từ các bộ sưu tập tư nhân, cũng như ông Dieulefils – người đã trực tiếp thực hiện phần minh họa liên quan đến kiến trúc tại Đông Dương với sự tận tâm tương tự.

Việc lựa chọn kỹ lưỡng các bản khắc cho phép chúng tôi trình bày rõ ràng toàn cảnh từng nhánh nghệ thuật, đồng thời thể hiện những công trình và tác phẩm hoàn chỉnh nhất – nơi tài năng của các nghệ sĩ thuộc nhiều thời kỳ đã được thể hiện rõ rệt. Tác giả không thể đi xa hơn nữa trong các nghiên cứu về vùng đất còn ít được biết đến này, dù nó rất phong phú về lý thuyết và đầy những điều kỳ lạ. Mục tiêu duy nhất của ông là giúp giới trí thức phương Tây nhận biết, một cách rõ ràng và nhanh chóng nhất, một nền nghệ thuật vẫn còn ít được định hình cho tới nay, và vốn dĩ chưa từng khơi dậy được nhiều sự quan tâm – dù rằng nghệ thuật ấy mang trong mình một đặc tính sáng tạo riêng biệt, tưởng như chỉ dành cho những dân tộc có năng lực sáng tạo vượt trội.

A. de P.

📚Hà Nội ‘thời kỳ huy hoàng’ 1873 – 1888📕Nguyên bản gốc in 1929.📕Chất liệu giấy tre📕Số lượng in giới hạn: 700 cuốnTrận đá...
04/07/2025

📚Hà Nội ‘thời kỳ huy hoàng’ 1873 – 1888

📕Nguyên bản gốc in 1929.
📕Chất liệu giấy tre
📕Số lượng in giới hạn: 700 cuốn

Trận đánh chiếm thành Hà Nội, chân dung các tướng Pháp bị giết chết, toàn cảnh chùa Báo Ân trước khi bị phá hủy… là các hình ảnh xuất hiện trong cuốn sách “Hà Nội trong thời kỳ huy hoàng (1873 – 1888)”.

“Hà Nội trong thời kỳ huy hoàng (1873 – 1888)” là tên cuốn sách ảnh của tác giả Masson, André, xuất bản ở Paris năm 1929. Từ “huy hoàng” ở đây ám chỉ sự thành công của người Pháp trong việc thiết lập các thiết chế thực dân ở Hà Nội

📚 L'art À Hue' = Nghệ Thuật Huế 📚 Bản in gốc 1930Lời tựa của: V. MURAIRE“Tất cả đều xám xịt, không tiếng động, từ những ...
19/06/2025

📚 L'art À Hue' = Nghệ Thuật Huế 📚 Bản in gốc 1930

Lời tựa của: V. MURAIRE
“Tất cả đều xám xịt, không tiếng động, từ những ngọn núi xanh đến bãi cát, Mang theo trong dòng chảy những bài hát của cây sampani, Sông Hương, dưới những bức tường thành cổ kính, Phản chiếu hình bóng của Kỵ sĩ hoàng gia.

Ters Pba-Cam, một đám rước với nghi thức bất diệt Tiến lên, theo nhịp trống tom-tom đều đặn từ xa; Sợ hãi, một số uba-què, do một người đáng chú ý dẫn đầu, Tập hợp lại, để nhìn rõ hơn, ở những bậc thang cuối cùng.

Trong số những bản nhạc blues cổ xưa, xà cừ, ngà voi, Một viên quan lại tàn tật đọc lại những cuốn sách ma thuật cũ Hát về quá khứ, vinh quang của ngày xưa;

Trong ngôi chùa có cánh cửa tượng trưng, ​​Nơi gỗ đàn hương cháy, gần những thánh tích uy nghiêm, Rất chậm rãi, bạn đồng hành của các vị vua dần biến mất.”

📚Nghệ thuật Huế (L’art à Hué)

- Tác giả: Le’opold Michel Cadière Edmond Gras

Cuốn sách Nghệ thuật Huế (L’art à Hué) của tác giả Le’opold Cadière (1869-1955) - một nhà Việt Nam học hàng đầu, chủ bút của tập san (Bulletin des Amis du Vieux Hué, Tập san Những người bạn Cố đô Huế), một trong những tạp chí Nghiên cứu Việt Nam hay nhất Đông Dương nửa đầu thế kỷ 20.
Nhắc đến Le’opold Cadière, người đã dành hơn 63 năm cuộc đời mình để nghiên cứu về Việt Nam, chúng ta không khỏi bị choáng ngợp với những công trình khảo cứu của ông trên đủ mọi phương diện như văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, gia tộc, ngôn ngữ, địa lý, khảo cổ học, dân tộc học, nghệ thuật ... Trong đó tác phẩm nổi danh của ông về nghệ thuật dĩ nhiên là Nghệ thuật Huế.
Nguyên thủy L’art à Hué là chuyên khảo số 1 Janv-Mars, năm 1919 của Bulletin des Amis du Vieux Hué về nghệ thuật kinh đô Huế. Song, với hơn 200 phụ bản tranh, ảnh, đồ họa tái hiện chân thực nghệ thuật tạo tác của họa công, của nghệ nhân Huế đương thời, tác phẩm đã vượt quy mô một khảo cứu tạp chí mà trở thành một công trình độc lập có giá trị vượt thời gian. Thực vậy, đây chính là một tuyển tập giàu có và tuyệt đẹp các mô típ, họa tiết của nghệ thuật kinh đô Huế và các tỉnh phụ cận của văn minh Việt Nam xưa. Chỉ riêng với nguồn tư liệu dồi dào, độc sáng, được phân loại và nhận xét rành rẽ thì Nghệ thuật Huế là một trong những số chuyên đề hay nhất của Bulletin des Amis du Vieux Hué
Xuất phát từ tình yêu dành cho đất nước và con người Việt Nam, Le’opold Cadière đã khởi xướng công trình này. Với độc giả ngày nay, Nghệ thuật Huế có thể được xem là một cuốn art book, một từ điển bằng tranh về nghệ thuật Huế nói riêng và Nghệ thuật Việt Nam xưa nói chung, nơi bạn có thể đắm mình cùng những hoa văn trang trí tưởng đơn sơ nhưng rút cuộc lại thi vị và có nguồn gốc sâu xa, những họa tiết tưởng như mới gặp lần đầu nhưng hóa ra lại gần gặn không ngờ, biến thể của nó ở đâu đó không hề xa nhà bạn. Vì lẽ ấy Nghệ thuật Huế, là một biểu tượng cho sự hòa hợp tốt đẹp giữa tinh thần Pháp và nghệ thuật Việt.

📚 L'art À Hue' = Nghệ Thuật Huế 📚 Bản in gốc 1919Lời tựa của: V. MURAIRE“Tất cả đều xám xịt, không tiếng động, từ những ...
19/06/2025

📚 L'art À Hue' = Nghệ Thuật Huế 📚 Bản in gốc 1919

Lời tựa của: V. MURAIRE
“Tất cả đều xám xịt, không tiếng động, từ những ngọn núi xanh đến bãi cát, Mang theo trong dòng chảy những bài hát của cây sampani, Sông Hương, dưới những bức tường thành cổ kính, Phản chiếu hình bóng của Kỵ sĩ hoàng gia.

Ters Pba-Cam, một đám rước với nghi thức bất diệt Tiến lên, theo nhịp trống tom-tom đều đặn từ xa; Sợ hãi, một số uba-què, do một người đáng chú ý dẫn đầu, Tập hợp lại, để nhìn rõ hơn, ở những bậc thang cuối cùng.

Trong số những bản nhạc blues cổ xưa, xà cừ, ngà voi, Một viên quan lại tàn tật đọc lại những cuốn sách ma thuật cũ Hát về quá khứ, vinh quang của ngày xưa;

Trong ngôi chùa có cánh cửa tượng trưng, ​​Nơi gỗ đàn hương cháy, gần những thánh tích uy nghiêm, Rất chậm rãi, bạn đồng hành của các vị vua dần biến mất.”

📚Nghệ thuật Huế (L’art à Hué)

- Tác giả: Le’opold Michel Cadière Edmond Gras

Cuốn sách Nghệ thuật Huế (L’art à Hué) của tác giả Le’opold Cadière (1869-1955) - một nhà Việt Nam học hàng đầu, chủ bút của tập san (Bulletin des Amis du Vieux Hué, Tập san Những người bạn Cố đô Huế), một trong những tạp chí Nghiên cứu Việt Nam hay nhất Đông Dương nửa đầu thế kỷ 20.
Nhắc đến Le’opold Cadière, người đã dành hơn 63 năm cuộc đời mình để nghiên cứu về Việt Nam, chúng ta không khỏi bị choáng ngợp với những công trình khảo cứu của ông trên đủ mọi phương diện như văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, gia tộc, ngôn ngữ, địa lý, khảo cổ học, dân tộc học, nghệ thuật ... Trong đó tác phẩm nổi danh của ông về nghệ thuật dĩ nhiên là Nghệ thuật Huế.
Nguyên thủy L’art à Hué là chuyên khảo số 1 Janv-Mars, năm 1919 của Bulletin des Amis du Vieux Hué về nghệ thuật kinh đô Huế. Song, với hơn 200 phụ bản tranh, ảnh, đồ họa tái hiện chân thực nghệ thuật tạo tác của họa công, của nghệ nhân Huế đương thời, tác phẩm đã vượt quy mô một khảo cứu tạp chí mà trở thành một công trình độc lập có giá trị vượt thời gian. Thực vậy, đây chính là một tuyển tập giàu có và tuyệt đẹp các mô típ, họa tiết của nghệ thuật kinh đô Huế và các tỉnh phụ cận của văn minh Việt Nam xưa. Chỉ riêng với nguồn tư liệu dồi dào, độc sáng, được phân loại và nhận xét rành rẽ thì Nghệ thuật Huế là một trong những số chuyên đề hay nhất của Bulletin des Amis du Vieux Hué
Xuất phát từ tình yêu dành cho đất nước và con người Việt Nam, Le’opold Cadière đã khởi xướng công trình này. Với độc giả ngày nay, Nghệ thuật Huế có thể được xem là một cuốn art book, một từ điển bằng tranh về nghệ thuật Huế nói riêng và Nghệ thuật Việt Nam xưa nói chung, nơi bạn có thể đắm mình cùng những hoa văn trang trí tưởng đơn sơ nhưng rút cuộc lại thi vị và có nguồn gốc sâu xa, những họa tiết tưởng như mới gặp lần đầu nhưng hóa ra lại gần gặn không ngờ, biến thể của nó ở đâu đó không hề xa nhà bạn. Vì lẽ ấy Nghệ thuật Huế, là một biểu tượng cho sự hòa hợp tốt đẹp giữa tinh thần Pháp và nghệ thuật Việt.

❤️Cuốn này ngưng Giao lưu ❤️————————————————Bảo Tàng Khải Định - Le Musee - bản in gốc năm 1930 - Bản có lời tựa về Lịch...
17/06/2025

❤️Cuốn này ngưng Giao lưu ❤️
————————————————

Bảo Tàng Khải Định - Le Musee - bản in gốc năm 1930
- Bản có lời tựa về Lịch Sử Bảo Tàng Khải Định
- Bản có thủ bút và chữ ký tác giả J.-H. PEYSSONNAUX ngày 20/3/1930

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1047202674176180&id=100066593720847

Bảo Tàng Khải Định - Le Musee - Nguyên bản in gốc năm 1929
17/06/2025

Bảo Tàng Khải Định - Le Musee - Nguyên bản in gốc năm 1929

LỊCH SỬ CỦA BẢO TÀNG KHAI DINH bởi P. JABOUILLECư dân cao cấp tại Annam, Chủ tịch Ủy ban Quản lý Bảo tàngVào năm 1913, G...
13/06/2025

LỊCH SỬ CỦA BẢO TÀNG KHAI DINH

bởi P. JABOUILLE

Cư dân cao cấp tại Annam, Chủ tịch Ủy ban Quản lý Bảo tàng

Vào năm 1913, Giáo phái Tưởng niệm đã tập hợp lại tại Kinh đô Đại-Nam "Những người bạn của Huế xưa"; họ không muốn để rơi vào quên lãng, theo đúng các điều khoản trong điều lệ của họ, "những ký ức cũ mang tính chính trị, lịch sử và văn học, cả của châu Âu và bản địa".

Họ may mắn tìm thấy trong con người của Quản trị viên Orband, người mà chúng tôi vô cùng tiếc nuối khi biết tin qua đời, vị giám đốc đã giúp họ thành lập Hội và thực hiện chương trình của mình bằng cách công bố kết quả nghiên cứu tận tâm của họ; cũng chính ông, được Chính phủ An Nam ủy quyền, đã xin được sự cho phép của Chính phủ An Nam để có Cung điện Tân-Thơ-Viện (1) đáng ngưỡng mộ làm nơi tổ chức các cuộc họp của Hội. Cũng chính Cung điện này, như chúng ta sẽ thấy sau, sẽ sớm được cất giữ dưới hầm của nó: đồ nội thất, tượng, bình hoa, lư hương, v.v., tất cả đều là những tác phẩm thú vị và nghệ thuật sẽ là điểm khởi đầu cho những gì sau này trở thành "Bảo tàng Khai Định".

Hội Những Người Bạn Huế Xưa vẫn coi Cha Cadière là thành viên của mình ngay từ ngày đầu, người đã và sẽ là người lãnh đạo nhóm, đến mức trở thành hiện thân của nhóm theo một cách nào đó.
—————————————————————————
(1) Cung điện này, ban đầu được gọi là Long-an-diên, được xây dựng vào năm 1845 bởi S. M. Thiệu-Trị trên bờ phải của kênh Ngư-Hà. Nó là một phần của một nhóm các tòa nhà được gọi là "Bảo-đình-cung".

Năm 1847, sau khi Vua Thiệu Trị băng hà, Điện Long An được dành riêng để thờ phụng vị Vua này.

Năm 1885, sau khi chiếm được Huế, các đồ vật tôn giáo của Điện Long An được chuyển đến Đền Phụng Tiên, nằm trong vòng thành thứ hai của Kinh thành.

Vào tháng 11 năm 1909, Điện Long An được di dời và xây dựng lại trên địa điểm hiện tại. Sau đó, Thư viện Hoàng gia Tân Thọ-Viên được xây dựng tại đó.

Cuối cùng, vào năm 1923, một Sắc lệnh Hoàng gia ban hành ngày 17 tháng 8 đã đặt tên cho Long-An trước đây, trước đây là Tân-thơ-Viên, là Bảo tàng Khải-Định.

Hơn mười năm đã trôi qua mà Hội không phải chịu một thất bại nhỏ nhất nào, và khi chúng ta nhìn lại như số báo cuối cùng của Bản tin năm 1926 cho phép chúng ta làm, chúng ta nhận ra rằng Hội có thể tự hào về công việc của mình: mọi thứ liên quan đến đồng bào hoặc những người được chúng ta bảo trợ đều không thể chìm vào quên lãng; những việc làm vĩ đại của họ đều có người giám hộ ngoan đạo và trung thành, sự phản ánh chân thực của họ: họ đã được cứu rỗi.

Nhưng mặt khác, điều gì đã xảy ra với tất cả những tác phẩm nghệ thuật này, những đồ nội thất quý giá này, những bức tượng này, những chiếc bình này, những chiếc potiches này, những chiếc đồng này, những chiếc men này, những chiếc ngà voi này, những vũ khí này, ai biết còn gì nữa, những thứ từng là niềm tự hào của một Triều đình xa hoa, tô điểm cho cuộc sống của các Hoàng tử, của những viên quan đã đạt đến cấp bậc cao nhất, của những thương gia giàu có? Bị truy đuổi, tịch thu, bán, nhượng lại, trao đổi, chúng đã mãi mãi và phần lớn rời khỏi An Nam và Đông Dương mãi mãi, để đi, được lọc qua các phòng đấu giá của châu Âu, để làm giàu cho các bộ sưu tập nước ngoài!

Đã đến lúc chấm dứt cuộc di cư này hay ít nhất là không thể lưu giữ tại Huế những ví dụ, mẫu vật, mô hình của mọi thứ đã tạo nên đời sống nghệ thuật An Nam; cho dù những đồ vật này được tạo ra ở An Nam hay được thiết kế ở nơi khác nhưng theo nhu cầu, thị hiếu hoặc thẩm mỹ của đất nước này? "Những người bạn của Huế xưa", chỉ đơn giản được hướng dẫn bởi lòng tôn trọng quá khứ và sở thích nghệ thuật của họ, đã tự nhiên nghĩ đến việc phản ứng lại cuộc cướp bóc này, bằng cách cố gắng đoàn tụ tại Tân-Thơ-Viện mọi thứ có thể gợi lại vinh quang trong quá khứ của chúng ta, chủ nghĩa anh hùng của chúng ta, sự huy hoàng của Triều đình cũ, phong tục cũ, nghi lễ, v.v... Hơn nữa, liên quan đến sự tham gia của A. V. H. trong cuộc giải cứu di tích của An Nam xưa này, tôi không thể làm gì tốt hơn là dành lời phát biểu ở đây cho Cha Cadière, người đã bày tỏ như vậy trong Tạp chí Lịch sử Thuộc địa, Số III năm 1925, khi xem xét lại công trình đã hoàn thành:

Chúng tôi đang dần tiến tới việc thành lập một Bảo tàng. Sự hữu ích của một cơ sở như vậy đã không thoát khỏi những người tổ chức Vieux-Hué. Ngay cả sau khi xuất bản Bản tin, đó vẫn là một trong những mối quan tâm đầu tiên của họ.

Từ phiên họp ngày 30 tháng 9 năm 1914, ông R. Orband, người vừa trình bày một nghiên cứu về một loạt đồ đồng nghệ thuật được đúc theo lệnh của Minh Mạng dựa trên các mô hình từ thời cổ đại, đã chỉ ra rằng bộ sưu tập này sẽ sớm được trưng bày tại phòng họp của Hội. Trong số những đồ đồng này, mà ông đã lấy được từ Chính phủ Annamite; đây là phôi thai của Bảo tàng. Chính ông Orband là người đã thực hiện vào dịp này các tủ trưng bày mà ít được đóng gói hầu hết các hiện vật góp phần làm phong phú thêm bộ sưu tập.
Năm 1915, theo sáng kiến ​​của ông Gras, một số thành viên của Hội đã đi tham quan làng Giâm-Biêu, để tìm một bức tượng Chăm mà Đức Cha Caspar, Giám mục của Huế, đã báo cáo với ông Odend'hal trước đó; họ đã may mắn tìm thấy nó và nó đã được đặt trong Sân của Tân-Thơ-Viện.... Bộ sưu tập đồ lưu niệm Chăm đã được tăng lên vào năm 1917 bởi một số bức tượng và một linga mà Cha Cadière đã phát hiện ra ở làng Xuân-Hoa và chính quyền tỉnh, theo yêu cầu của ông Orband, đã vận chuyển đến Tân-Thơ-Viện.

Các khoản quyên góp cho Bảo tàng ngày càng nhiều. Năm 1917, những người thừa kế của ngài Dumoutier Dumoutier đã quyên góp một số đồ nội thất Annamite có giá trị lớn. Đức vua đã quyên góp bốn bộ trang phục đắt tiền... Nhưng tất cả những điều này chỉ là sự gia tăng, có thể nói như vậy, từng giọt một. "Ngài Tổng trú Pasquier được dành riêng để đưa ra quyết định, trong khi tôn vinh. Hội những người bạn của Huế cổ và khen thưởng những nỗ lực mà hội đã dành cho việc thành lập Bảo tàng, sẽ cho phép công trình này phát triển đầy đủ, đầu tiên là dưới sự bảo trợ của Huế cổ, sau đó là theo cách tự chủ.

Quyết định này đã được cân nhắc kỹ lưỡng. Vào khoảng tháng 5 năm 1922 rằng ông Pasquier đã thông báo cho các thành viên của Hội. Vài ngày trước khi ngài lên đường sang Pháp cùng Đức Vua Khải Định. Khi trở về, ngài đã thực hiện lời hứa và đã làm như vậy với lòng hào phóng lớn lao. Ngài Thường trú Pasquier, đề cập đến biên bản cuộc họp ngày 24 tháng 10 năm 1922, thông báo với chúng tôi rằng một khoản tiền 3.000 đô la đã được đưa vào ngân sách địa phương năm 1923 để mua các tác phẩm nghệ thuật.....dành cho Bảo tàng Huế. Ngài tin rằng Hội Bạn hữu Huế xưa là nơi lý tưởng để sử dụng khoản tín dụng này và ngài giao cho Hội sử dụng. Công việc bắt đầu ngay khi có khoản phân bổ. Ngài Thường trú, chúng tôi đọc trong biên bản Phiên họp ngày 17 tháng 1 năm 1923, yêu cầu Văn phòng hoặc một số Thành viên đủ điều kiện đảm nhiệm việc mua các tác phẩm nghệ thuật và đồ trang sức trình bày một dấu ấn nghệ thuật và sẽ biến mất. Chúng sẽ đóng vai trò là mô hình cho Trường Nghệ thuật Bản địa có kế hoạch thành lập. Ông Jabouille tham gia mong muốn của ông Pasquier và đề xuất thành lập một Ủy ban ngay lập tức. Tên của các ông Bardon, Gras, Thân-Trọng-Hue, Levadoux, Peyssonnaux được đưa ra. Người ta hiểu rằng những quý ông này sẽ thành lập, với một số thành viên người An Nam mà họ sẽ tự chỉ định, một Ủy ban của Bảo tàng, sẽ nghiên cứu các phương tiện để đạt được mục tiêu mà do Thượng thư quản lý hình dung. Ủy ban này sẽ được gọi là “Ủy ban Bảo tàng”.

Ngày 25 tháng 4 năm 1923, các Thành viên của Ủy ban này gặp nhau lần đầu tiên. Hiện diện có: H.E. Thân-Trọng-Huề, MM. Gras, Levadoux, Sogny, Peyssonnaux, Nguyen-Đình-Hòe, Tôn-thất-Sa, Lê-Văn-Kỳ, H.E. Thân-Trọng-Huề và ông Gras được bổ nhiệm làm Chủ tịch và ông Peysonnaux, Bí thư. Chúng tôi tin rằng chúng ta nên thêm thông tin sau đây vì nó làm sáng tỏ vấn đề hơn nữa.

Vào năm 1923, ông Pasquier biết, giống như tất cả những người quan tâm đến đất nước này, rằng một số cuộc bán đấu giá ở Paris đã phổ biến một số lượng lớn các tác phẩm nghệ thuật từ An Nam, và mặt khác, ông đang cân nhắc ý tưởng thành lập một Trường Nghệ thuật An Nam tại Huế, để nếu có thể, hồi sinh các thế hệ nghệ nhân sống nhờ sự lộng lẫy của Triều đình.

Đây là hai lý do chính đáng để biện minh cho việc thành lập một Bảo tàng, trước hết là để chống lại tình trạng di cư của những đồ vật tò mò và cũng để cung cấp cho những người lao động tương lai những mô hình hoàn hảo nhất về Nghệ thuật Trung-An Nam.

❤️Với một vị Vua biết kết hợp sự tôn trọng truyền thống và nghệ thuật dưới mọi hình thức biểu hiện, như Đức Vua Khải Định, sự hiểu biết trở nên dễ dàng và nhanh chóng.

❤️Ngoài ra, vào ngày 15 tháng 5 năm 1923, ông Pasquier đã gửi cho các đồng nghiệp của mình một Thông tư, những đoạn quan trọng trong đó đáng được sao chép lại:

❤️Sự hiểu biết sáng suốt của Đức vua Khải-Định về những vấn đề liên quan đến giáo dục nghệ thuật của người dân An Nam đã giúp thành lập một Bảo tàng tại Huế với mục đích tập hợp các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho đời sống xã hội, nghi lễ và chính trị của Đại-Nam.

❤️Bệ hạ đã vui lòng cho biết sự quan tâm sâu sắc mà Ngài * dành cho công trình này bằng cách giao cho Ngài quyền sử dụng để lắp đặt các bộ sưu tập trong tương lai, Cung điện Tân-Thơ-Viện, "từ nay sẽ mang tên Bảo tàng Khai-Định.
Bảo tàng này, được đặt dưới sự giám sát của những người bạn cũ Hue, có mục đích tạo ra các quần thể, tái tạo một số nội thất bản địa, lưu giữ các mẫu vật đẹp của nghệ thuật An Nam (đồ nội thất cổ, đồ sứ, men, sơn mài, đồ đồng, thêu, tranh vẽ và tranh sơn mài, đồ khảm, đồ trang sức, đồ da, đồ thờ cúng và đồ dùng hàng ngày....) tất cả các đồ vật mà chúng ta tìm thấy suy nghĩ của người thợ thủ công hoặc "nghệ sĩ" và sẽ tạo thành một bộ sưu tập các mô hình quý giá để hình thành thị hiếu và cảm xúc nghệ thuật của các thế hệ tương lai. Họ cũng sẽ tạo ra một quần thể tài liệu cho phép nghiên cứu và hiểu lịch sử và cuộc sống của người dân An Nam...

Một khoản tín dụng đã được phân bổ trong ngân sách địa phương để mua các hiện vật. Tôi hy vọng rằng các khoản quyên góp sẽ cho phép chúng tôi làm giàu và nhanh chóng tăng bộ sưu tập của mình. Đây sẽ là một di sản quốc gia mà nếu không có Bảo tàng Khai-Định thì có nguy cơ biến mất, phân tán hoặc bị phá hủy.

Đối với Sắc lệnh Hoàng gia có hiệu lực thi hành vào ngày 24 tháng 8 năm 1923, cần phải sao chép lại toàn bộ, vì nó cho thấy trường hợp mà Đức vua Khải-Định đã đưa ra đối với thể chế mới này:

Thiên tài của một dân tộc được thể hiện qua các sản phẩm nghệ thuật phản ánh đời sống xã hội, nghi lễ, chính trị và là hình ảnh tâm hồn của dân tộc đó.

Dân tộc chúng ta đã nhận được từ các thế hệ trước những mẫu vật tuyệt đẹp của nghệ thuật thế tục phải được bảo tồn để hình thành và duy trì thị hiếu và tình cảm nghệ thuật của các thế hệ tương lai.

Ngài Bề trên trú xứ đề nghị với chúng ta hôm nay thành lập một Bảo tàng tại Kinh thành Huế, nơi sẽ tập hợp-thu thập và bảo quản những mẫu vật đẹp nhất của Nghệ thuật và Ngành công nghiệp An Nam dành cho nghệ sĩ và thợ thủ công tương lai có thể có trước mắt họ những sản phẩm của họ. Tổ tiên, những người mà họ có thể học hỏi được nhiều điều bổ ích.

"Ngài đề nghị giao cho công trình này xây dựng nhà thờ Tân-Thơ-Viện, vẻ đẹp và phong cách tao nhã là do Đức vua Hiến-Tô Chương-Hoàng-Đê sáng tạo nên.

Thiệu-Trị et de donner à ce Musée le nom de « Khai-Định », danh hiệu trị vì của chúng ta. Sự tinh tế mà Ngài Bề trên thường trú muốn cho chúng ta thấy, chúng tôi xin chấp thuận việc thành lập. Rất vui mừng và rất cảm động trước sự quan tâm này của Đại đức

Address

Ho Chi Minh City
70000

Telephone

+84912758118

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CTDA.vn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share